Mỗi khi đến tham quan hay xem một video về động vật hoang dã (ĐVHD) trong sở thú, khu bảo tồn, safari,… bạn có tự đặt ra tiêu chuẩn để đánh giá ngoại hình, tính cách của mỗi động vật hay cơ sở vật chất của những nơi nuôi nhốt động vật đó hay không?
Bạn có khi nào thắc mắc những người có chuyên môn liên quan đến ĐVHD, làm trong những khu bảo tồn, safari, sở thú,… thì họ sẽ đánh giá dựa trên những yếu tố, nguyên tắc nào không?
Trong chuỗi bài viết này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về cách đánh giá tình trạng sống, sức khoẻ, hành vi của ĐVHD trong môi trường nuôi nhốt cũng như các nguyên tắc cơ bản khi xây dựng một khu vực chuồng trại, nuôi nhốt động vật dưới góc nhìn của người trong cuộc.
Khi nói đến ĐVHD trong môi trường nuôi nhốt nói riêng hay động vật trong nuôi nhốt nói chung, sẽ luôn đi kèm một cụm từ chuyên môn gọi là “phúc lợi động vật” (tên tiếng Anh: “animal welfare”). Vậy phúc lợi động vật là gì? Tại sao lại cần phải đề cập đến phúc lợi động vật khi nói nói đến động vật trong nuôi nhốt?
1. Phúc lợi động vật là gì?
Tổ chức Thú y thế giới (WOAH) định nghĩa: “Phúc lợi động vật đề cập đến sức khỏe thể chất và tinh thần của động vật. Phúc lợi của động vật được xem là tốt hoặc cao nếu cá thể đó khỏe mạnh, tự do thể hiện hành vi tự nhiên, không bị đau khổ và ở trong trạng thái hạnh phúc tích cực.”
Theo Fraser, khái niệm về phúc lợi động vật bao gồm ba yếu tố: chức năng sinh học bình thường của động vật (nghĩa là đảm bảo động vật khỏe mạnh và được nuôi dưỡng tốt), trạng thái cảm xúc của chúng (bao gồm việc không có những cảm xúc tiêu cực, chẳng hạn như đau đớn, căng thẳng và sợ hãi mạn tính), và khả năng thể hiện một số hành vi bình thường của chúng.
Phúc lợi cao có nghĩa là động vật có khả năng kiểm soát cuộc sống của mình, bao gồm khả năng thể hiện đầy đủ các hành vi tự nhiên, cảm thấy an toàn, có trải nghiệm tích cực và có chất lượng cuộc sống tốt.
Phúc lợi động vật là một ngành khoa học. Việc xác định cách đánh giá phúc lợi động vật là điều thiết yếu đối với lĩnh vực khoa học này và đã có nhiều phương pháp luận hay các mô hình được phát triển, trong số đó phải kể đến Mô hình năm lĩnh vực (Five domains model) của David Mellor.

Mô hình Năm lĩnh vực có thể được áp dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống của từng cá thể động vật, cung cấp thông tin hữu ích về thực hành chăn nuôi góp phần tạo nên chất lượng cuộc sống tốt cho động vật, bao gồm:
- Dinh dưỡng: động vật có cơ hội tiếp cận nguồn thức ăn và nước uống đầy đủ, phù hợp với loài, cân bằng, đa dạng, và sạch sẽ.
- Môi trường: môi trường sống của động vật mang lại sự thoải mái thông qua các yếu tố như nhiệt độ, chất nền, không gian, không khí, mùi hương, tiếng ồn….
- Sức khỏe: động vật có sức khoẻ bình thường. Với những động vật gặp vấn đề về sức khoẻ thì phải được điều trị ngay lập tức và có các phương án điều trị phù hợp. Đảm bảo an toàn sinh học và phòng ngừa các dịch bệnh phổ biến trong loài hoặc giữa các loài động vật với nhau, giữa động vật và người.
- Tương tác hành vi: động vật có thể thể hiện đầy đủ các hành vi tự nhiên như khám phá, tìm kiếm thức ăn, chơi đùa, và các tương tác hành vi giữa cá thể động vật đó với môi trường, các động vật khác và với con người.
- Trạng thái tinh thần: khi 4 lĩnh vực trên được đảm bảo phù hợp với từng loài, từng cá thể thì trạng thái tinh thần của động vật sẽ được cải thiện và đảm bảo như tăng trạng thái, cảm xúc tích cực: chơi đùa, chải chuốt (grooming), … đồng thời giảm thiểu hoặc loại bỏ các trạng thái tiêu cực như sợ hãi, đói, đau đớn, hoặc buồn chán.
2. Đối tượng áp dụng
Phúc lợi động vật được áp dụng cho toàn bộ các cá thể động vật trên toàn thế giới, không chỉ riêng động vật hoang dã mà còn là gia súc, gia cầm, thú cưng, động vật thí nghiệm,….
Với mỗi đối tượng động vật sẽ có những quy chuẩn riêng để đánh giá phúc lợi dựa trên nền tảng là mô hình Năm lĩnh vực.
Trong LĨNH VỰC CHĂN NUÔI, đảm bảo phúc lợi cho động vật sẽ đi kèm với phát triển bền vững, giúp giảm thiểu chi phí thức ăn và điều trị thú y, tăng chất lượng sản phẩm chăn nuôi như:
- Dinh dưỡng: đảm bảo dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từng loài khác nhau vừa giúp con vật phát triển tốt, đảm bảo yếu tố thời vụ và làm tăng hiệu quả kinh tế.
- Môi trường: liên quan trực tiếp đến mật độ đàn gia súc, gia cầm, khu vực chuồng nuôi phù hợp với kích thước đàn, đảm bảo các yếu tố kĩ thuật giúp tăng hiệu suất chăn nuôi, giảm thiểu nguy cơ cạnh tranh, đánh nhau với các loài nuôi tập trung theo đàn và đảm bảo yếu tố vệ sinh, an toàn sinh học giúp giảm thiểu chi phí cho thú y. Ví dụ nếu khu vực chuồng nuôi không bổ sung rơm rạ hay vật liệu để lợn ủi có thể khiến chúng căng thẳng, thất vọng dẫn đến hành vi cắn đuôi nhau.
- Sức khoẻ: do con người sẽ tiêu thụ các sản phẩm từ những loài động vật này, việc đảm bảo tất cả các động vật có sức khoẻ tốt không chỉ mang lại lợi ích cho chính con vật đó mà còn là đảm bảo sức khoẻ cho cả cộng đồng dân cư trên thế giới. Từ trước tới nay loài người đã chứng kiến rất nhiều dịch bệnh truyền lây giữa động vật trang trại và con người gây nên những thiệt hại nặng nề như: bệnh lao bò (truyền lây từ bò sang người và các động vật khác), bệnh than (truyền lây từ trâu, bò sang người), bệnh Brucella (lây từ trâu bò lợn sang người), nhiễm khuẩn E.coli, Salmonella (lây truyền từ tất cả các sản phẩm động vật nhiễm bệnh),….
- Tương tác hành vi: động vật trang trại cũng cần phải được thể hiện hành vi tự nhiên để giảm thiểu những căng thẳng trong quá trình nuôi nhốt, căng thẳng sinh lý,… Không chỉ dừng ở đó, cần đề cao hơn việc giảm thiểu những tương tác hành vi tiêu cực giữa con người với động vật trang trại để đảm bảo sức khoẻ tinh thần và thể chất của mỗi động vật.
- Trạng thái tinh thần: khi 4 mô hình trên được đảm bảo, tinh thần của con vật cũng sẽ được cải thiện, giảm thiểu những hành vi tự làm đau chính bản thân để giảm thiểu căng thẳng, lo âu, và tăng năng suất cũng như chất lượng sản phẩm chăn nuôi.
Đối với ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRONG MÔI TRƯỜNG NUÔI NHỐT, đảm bảo phúc lợi động vật đóng vai trò quan trọng không chỉ với chính các cá thể động vật mà còn với công tác bảo tồn, giáo dục nâng cao nhận thức. Phúc lợi cho ĐVHD trong môi trường nuôi nhốt cần được đảm bảo theo các tiêu chí:
- Dinh dưỡng: cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cũng như khẩu phần ăn phù hợp với đặc tính tự nhiên của từng loài đặc biệt với những trường hợp cá thể động vật đó có thể tái thả lại môi trường tự nhiên thì việc đảm bảo cung cấp khẩu phần ăn gần hay giống như khẩu phần ăn tự nhiên của loài đóng vai trò quan trọng trong việc cá thể đó có thể sinh tồn tốt hay không sau khi tái thả trở lại.
- Môi trường: một khu vực nuôi nhốt, chăm sóc phù hợp với đặc tính tự nhiên từng loài và có không gian đủ để các cá thể động vật tự do thể hiện các hành vi tự nhiên sẽ hỗ trợ hạn chế căng thẳng, cảm xúc tiêu cực cũng như các hành vi tự gây hại cho chính bản thân con vật.
- Sức khoẻ: được cung cấp điều trị thú y kịp thời cũng như đảm bảo an toàn sinh học trong khu vực chuồng nuôi sẽ đảm bảo chất lượng cuộc sống của các cá thể động vật cũng như hạn chế lây lan các dịch bệnh nguy hiểm giữa các loài động vật và giữa động vật và người. Ví dụ: dịch Ebola lây truyền từ dơi, linh trưởng sang người, dịch Covid bắt nguồn từ các loài ĐVHD và lây truyền sang người,….
- Tương tác hành vi: trong môi trường nuôi nhốt, việc tiếp xúc giữa người (nhân viên chăm sóc, bác sĩ thú y,..) và động vật là điều không thể tránh khỏi. Việc tăng cường những trải nghiệm tiếp xúc tích cực giữa người và động vật hỗ trợ cho công tác chăm sóc, điều trị thú y tốt hơn (huấn luyện chăm sóc hợp tác,…) cũng như giảm thiểu những căng thẳng không đáng có cho động vật. Tuy nhiên việc tiếp xúc trực tiếp giữa người và động vật cần phải hạn chế đến mức tối đa và cần phải đảm bảo an toàn cho cả người và động vật, tránh những tai nạn, thương tích không đáng có, cũng như khiến cá thể động vật hoang dã quá gần gũi với con người làm mất dần đi bản năng tự vệ tự nhiên với con người. Việc tương tác giữa động vật với động vật cũng cần được lưu ý phù hợp với đặc tính loài, ví dụ với những loài sống theo đàn, theo cặp (khỉ, vọoc, chim hồng hoàng,…) cần phải tăng cường những tương tác cùng loài và ngược lại, với những loài sống đơn lẻ thì cần phải có những không gian sống riêng biệt và hạn chế những tiếp xúc cùng loài.
- Trạng thái tinh thần: dựa trên những biểu hiện hành vi có thể đánh giá được trạng thái tinh thần của cá thể động vật đó cho dù động vật không thể nói được. Khi 4 Lĩnh vực trên được cung cấp phù hợp, động vật sẽ có những biểu hiện hành vi tích cực, phù hợp với loài từ đó thể hiện trạng thái tinh thần tốt. Và ngược lại, khi động vật thể hiện những hành vi tiêu cực, không phù hợp với loài hay có những vấn đề liên quan đến sức khoẻ cho thấy trạng thái tinh thần của cá thể đó đang không được tốt và cần phải cải thiện dựa trên cả 4 Lĩnh vực: sức khoẻ, tương tác hành vi, môi trường, và dinh dưỡng.
3. Phúc lợi động vật trong quy định pháp luật của các nước trên thế giới
Khi xã hội ngày càng phát triển, việc đề cao tầm quan trọng của phúc lợi động vật cũng ngày càng được chú trọng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định pháp luật về phúc lợi động vật hay những điều khoản liên quan đến phòng chống ngược đãi động vật. Một trong những bước phát triển quan trọng nhất trong luật phúc lợi động vật là sự công nhận ngày càng trở nên rộng rãi về khả năng nhận thức của động vật. Trong bối cảnh pháp lý và khoa học, khả năng tri giác đề cập đến khả năng mà động vật trải nghiệm các cảm giác như đau đớn, sợ hãi, căng thẳng, thoải mái, và khoái cảm. Các quốc gia bao gồm Đức, Vương quốc Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Canada, Úc, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ và New Zealand chính thức công nhận khả năng tri giác hay sự đau khổ của động vật dưới một số hình thức trong khuôn khổ pháp lý của họ.
Ngoài ra từ năm 2014, Tổ chức Bảo vệ động vật thế giới (tên tiếng Anh: “Wold Animal Protection”) đã nghiên cứu và đưa ra Chỉ số Bảo vệ Động vật (API) xếp hạng 50 quốc gia trên toàn thế giới dựa trên các chính sách và quy định pháp luật về phúc lợi động vật. Với 4 mục tiêu:
- Công nhận khả năng cảm nhận của động vật và cấm gây đau khổ cho động vật: đánh giá xem liệu khả năng cảm nhận của động vật đã được công nhận trong hệ thống pháp luật hay chưa, đồng thời xem xét các biện pháp bảo vệ pháp lý cốt lõi dành cho động vật, chẳng hạn như quy định cấm ngược đãi động vật.
- Sự hiện diện của luật pháp về phúc lợi động vật: xem xét các quy định pháp luật về bảo vệ động vật liên quan đến nhiều nhóm động vật khác nhau, cụ thể là: vật nuôi trong trang trại, động vật bị nuôi nhốt, thú cưng, động vật làm việc, động vật phục vụ giải trí, động vật dùng trong nghiên cứu khoa học, và ĐVHD.
- Thành lập các cơ quan chính phủ hỗ trợ: xem xét cam kết của chính phủ đối với công tác bảo vệ động vật. Nội dung này bao gồm việc liệu có sự phân định trách nhiệm, cơ chế giải trình và phân bổ nguồn lực trong bộ máy chính phủ để bảo vệ động vật hay không.
- Ủng hộ các tiêu chuẩn quốc tế về phúc lợi động vật: xem xét liệu các tiêu chuẩn về phúc lợi động vật của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH) đã được đưa vào luật hoặc chính sách hay chưa, và liệu Chính phủ có ủng hộ Tuyên bố Toàn cầu về Phúc lợi Động vật hay không.
Ở Việt Nam, tuy chưa có luật quy định cụ thể về phúc lợi động vật, nhưng trong Luật thú y năm 2015 và Luật Chăn nuôi 2018 đã có nhắc tới việc giảm thiểu đau đớn, sợ hãi, đối xử nhân đạo với động vật trong chăn nuôi.
Luật Thú y 2015 quy định:
“Điều 21. Đối xử với động vật
- Tổ chức, cá nhân chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sử dụng động vật có trách nhiệm sau đây:
- a) Quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, vận chuyển phù hợp với từng loài động vật;
- b) Giảm thiểu đau đớn, sợ hãi, đối xử nhân đạo với động vật trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, vận chuyển, giết mổ, tiêu hủy, phòng bệnh, chữa bệnh và nghiên cứu khoa học.
- Tổ chức, cá nhân nuôi động vật làm cảnh, nuôi bảo tồn đa dạng sinh học có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh, chữa bệnh cho động vật đầy đủ, kịp thời theo quy định của Luật này.”
Luật Chăn nuôi 2018 quy định:
“Điều 69. Đối xử nhân đạo với vật nuôi trong chăn nuôi
Tổ chức, cá nhân có hoạt động chăn nuôi phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
- Có chuồng trại, không gian chăn nuôi phù hợp với vật nuôi;
- Cung cấp đủ thức ăn, nước uống bảo đảm vệ sinh;
- Phòng bệnh và trị bệnh theo quy định của pháp luật về thú y;
- Không đánh đập, hành hạ vật nuôi.
Điều 70. Đối xử nhân đạo với vật nuôi trong vận chuyển
Tổ chức, cá nhân vận chuyển vật nuôi phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
- Sử dụng phương tiện, trang thiết bị vận chuyển vật nuôi phù hợp, bảo đảm không gian thông thoáng, hạn chế chấn thương, sợ hãi cho vật nuôi;
- Cung cấp đủ thức ăn, nước uống cho vật nuôi;
- Không đánh đập, hành hạ vật nuôi.
Điều 71. Đối xử nhân đạo với vật nuôi trong giết mổ
Cơ sở giết mổ vật nuôi phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
- Có nơi lưu giữ vật nuôi bảo đảm vệ sinh; cung cấp nước uống phù hợp với vật nuôi trong thời gian chờ giết mổ;
- Hạn chế gây sợ hãi, đau đớn cho vật nuôi; không đánh đập, hành hạ vật nuôi;
- Có biện pháp gây ngất vật nuôi trước khi giết mổ; không để vật nuôi chứng kiến đồng loại bị giết mổ.
Điều 72. Đối xử nhân đạo với vật nuôi trong nghiên cứu khoa học và hoạt động khác
- Vật nuôi sử dụng trong nghiên cứu khoa học và hoạt động khác phải được đối xử nhân đạo theo quy định tại các điều 69, 70 và 71 của Luật này.
- Đối xử nhân đạo với vật nuôi phải tôn trọng, hài hòa với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa truyền thống và được cộng đồng xã hội chấp thuận.”
LỜI CUỐI
Tóm lại, phúc lợi động vật là một khái niệm rộng hơn rất nhiều so với việc một con vật có được ăn no, ngủ kỹ, có chuồng ở hay có đang mắc bệnh hay không. Một cá thể có thể trông hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất nhưng vẫn có phúc lợi kém nếu môi trường sống không phù hợp, không thể thực hiện những hành vi tự nhiên, thường xuyên chịu căng thẳng hoặc không có cơ hội trải nghiệm những trạng thái tích cực. Chính vì vậy, việc đánh giá phúc lợi cần nhìn vào toàn bộ đời sống của con vật, từ dinh dưỡng, môi trường, sức khỏe và tương tác hành vi cho đến trạng thái tinh thần.
Ngày nay, phúc lợi động vật không còn được nhìn nhận như một vấn đề chỉ đơn giản là liên quan đến bản thân con vật, quyền của con vật, mà ngày càng được đặt trong mối liên hệ với sức khỏe cộng đồng, phát triển bền vững, bảo tồn và trách nhiệm đạo đức của con người. Ở góc độ tâm lý và đạo đức, cách chúng ta đối xử với động vật phản ánh mức độ đồng cảm, lòng trắc ẩn và trách nhiệm của con người đối với những sinh vật khác. Việc nhận ra một con vật đang đau đớn, căng thẳng hay sống trong điều kiện không phù hợp không chỉ tạo ra cảm giác thương cảm, mà còn có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta đánh giá, lựa chọn và ủng hộ các cơ sở nuôi giữ động vật.
Trong lĩnh vực chăn nuôi và sản xuất thực phẩm, phúc lợi động vật còn gắn với sức khỏe vật nuôi, vệ sinh, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh và chất lượng sản phẩm. Một môi trường nuôi giữ phù hợp, dinh dưỡng đầy đủ, chăm sóc thú y tốt và giảm thiểu căng thẳng không chỉ giúp động vật có chất lượng sống tốt hơn mà còn góp phần hạn chế nguy cơ bệnh tật và xây dựng hệ thống sản xuất thực phẩm có trách nhiệm hơn. Trong bảo tồn, phúc lợi cũng giúp bảo đảm rằng các cá thể được cứu hộ, chăm sóc hay tái thả không chỉ “sống sót”, mà còn có điều kiện phục hồi và thể hiện những hành vi phù hợp với loài. Vì vậy, phúc lợi động vật ngày càng được xem là một vấn đề liên ngành, nơi lợi ích của động vật, con người, môi trường và xã hội có sự liên kết chặt chẽ với nhau.
Điều mình muốn nhấn mạnh qua bài viết này là phúc lợi động vật không phải một tiêu chuẩn chỉ dành cho những người làm chuyên môn. Khi chúng ta đến một sở thú, trung tâm cứu hộ, khu bảo tồn hay bất kỳ cơ sở nào có động vật được nuôi giữ, cách chúng ta quan sát, đặt câu hỏi và lựa chọn những nơi mình ủng hộ cũng có ý nghĩa. Thay vì chỉ quan tâm một con vật có “đẹp”, “dễ thương” hay “thân thiện” hay không, chúng ta có thể bắt đầu chú ý nhiều hơn đến việc nó đang sống trong điều kiện nào, có thể thể hiện những hành vi đặc trưng của loài hay không, và môi trường đó có thực sự đáp ứng nhu cầu của nó hay không. Đây cũng chính là những yếu tố cốt lõi được sử dụng khi đánh giá phúc lợi cho cả động vật chăn nuôi lẫn động vật hoang dã trong môi trường nuôi giữ.
Trong những bài tiếp theo của chuỗi bài viết về chủ đề phúc lợi động vật này, mình sẽ tiếp tục đi sâu hơn vào cách nhận biết một số dấu hiệu phúc lợi kém, hành vi bất thường và những phương pháp được sử dụng để cải thiện chất lượng sống của động vật trong môi trường nuôi giữ. Cảm ơn bạn đã theo dõi.
Trần Khánh Ngân
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm:
Các nội dung được đăng tải trong bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và tham khảo chung. Quite A Lens và mình không cam kết hoặc bảo đảm, dù trực tiếp hay ngụ ý, về tính chính xác, đầy đủ, cập nhật, độ tin cậy hay mức độ phù hợp của các thông tin được trình bày. Nội dung bài viết không nên được xem là sự thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc hướng dẫn chuyên môn từ các chuyên gia hay cơ quan có thẩm quyền. Bài viết có thể dẫn đến các trang web của bên thứ ba nằm ngoài phạm vi quản lý và kiểm soát của Quite A Lens; vì vậy, chúng tôi không chịu trách nhiệm đối với nội dung thay đổi, chính sách bảo mật, tính chính xác của thông tin hoặc hoạt động của các trang web này.

