Skip to content Skip to footer

Rối loạn nhân cách: kẻ giết người hay nạn nhân của màn ảnh?

Nếu các bạn cũng như mình, thích xem những bộ phim phá án, trinh thám của TVB Hong Kong, có lẽ bạn sẽ không thấy quá xa lạ với các bộ phim như Bằng Chứng Thép (Forensic Heroes), Hồ Sơ Trinh Sát (Detective Investigation Files) hay Tâm Lý Truy Hung (The Mind Games). Hoặc nếu bạn là người yêu thích các bộ phim của các nhà làm phim Hollywood, có thể bạn sẽ biết đến Split (2017) và những bộ phim tương tự khác. 

Điểm chung của các bộ phim này đó là họ lấy cảm hứng từ các Rối loạn phân ly (Dissociative Disorders – DDs), đặc biệt là Rối loạn nhận dạng phân ly (Dissociative Identity Disorder – DID) hay còn được công chúng biết đến là rối loạn “đa nhân cách”. DID được áp vào các nhân vật trong bộ phim hoặc tập phim như công cụ tạo “twist”, khiến cho rất nhiều người lầm tưởng đa số những người mắc DID đều là những kẻ đa nhân cách có ít nhất 1 nhân cách điên loạn, có xu hướng bạo lực cực đoan và có khả năng giết người tàn nhẫn. Trong khi đó, chẳng có nhiều hoặc thậm chí chẳng có bộ phim nào được xây dựng dựa trên trải nghiệm thực tế của người mắc DID cả. 

Chuyện sẽ không có gì đáng nói nếu những bộ phim đó không gây “tổn thương” cho bất cứ ai. Nhưng thực tế, nó đã tạo ra rất nhiều định kiến trong xã hội đối với những người mắc rối loạn tâm lý này. Khiến cho việc những người mắc phải không dám công khai vì xã hội chưa đủ an toàn để họ nói ra, họ có thể bị kỳ thị do hình ảnh xây dựng từ các bộ phim như những kẻ sát nhân phản diện, khó kiếm được việc làm, hay thậm chí nó trở thành “điểm yếu” của họ khi liên quan đến các vấn đề pháp lý. Trong khi đó, sự thật là:

Không có bằng chứng thực nghiệm cho thấy người mắc DDs có nguy cơ giết người cao hơn so với dân số chung. Đa số các trường hợp mắc DDs có tiền sử bị bạo hành, lạm dụng nghiêm trọng trong thời thơ ấu, bị chấn thương tâm lý v.v… Người mắc DID hay làm đau chính mình và có hành vi tự sát cao.

Đứng trên khía cạnh là một người thích nghiên cứu, tôi nghĩ sự phóng đại hóa của các nhà làm phim còn gây cản trở ngành khoa học nữa vì các nhà nghiên cứu sẽ sẽ khó tiếp cận mẫu lớn đối với loại rối loạn này. Chính vì vậy, tôi muốn viết về chủ đề này tại đây để những ai quan tâm có thể hiểu hơn về các rối loạn phân ly (DDs) và đặc biệt là DID hay được khai thác trên màn ảnh. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem, liệu DID có thật sự nguy hiểm không? Các rối loạn phân ly khác thì thế nào?

RỐI LOẠN PHÂN LY LÀ GÌ?

Rối loạn phân ly là một nhóm các rối loạn được thể hiện rất đặc trưng bởi sự gián đoạn trong ý thức, trí nhớ, bản dạng, cảm xúc, tri giác, khả năng kiểm soát vận động thậm chí hành vi của người mắc. Các triệu chứng của rối loạn phân ly thường liên quan đến sang chấn tâm lý và cơ chế bảo vệ của hệ thần kinh của người mắc trong hoặc sau trải nghiệm căng thẳng, bị tổn thương kéo dài.

CÁC LOẠI RỐI LOẠN PHÂN LY

Theo DSM-5-TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Edition, Text Revision), các rối loạn phân ly được chia thành 5 loại như sau:

  1. Dissociative Identity Disorder (DID) – Rối loạn nhận dạng phân ly
  2. Dissociative Amnesia – Chứng quên/mất trí nhớ phân ly
  3. Depersonalization-Derealization Disorder (DDD) – Rối loạn giải thể-mất thực tại
  4. Unspecified Dissociative Disorder – Rối loạn phân ly không được chỉ định
  5. Other Specified Dissociative Disorder – Rối loạn phân ly khác được chỉ định

Lưu ý: DSM-5-TR là cẩm nang chẩn đoán rối loạn tâm thần do American Psychiatric Association (APA) ban hành. Phù hợp với bối cảnh văn hóa và lâm sàng của Mỹ và các nước phương Tây. Nếu bạn ở các quốc gia khác, bạn có thể tham khảo thêm ICD của WHO. Tuy nhiên, trong hầu hết các bài viết tại đây, tôi sẽ chủ yếu tham khảo DSM-5-TR vì hiện Mỹ là nơi tôi đang theo học và tìm hiểu về nghiên cứu chính.

Tuy nhiên chỉ có (1), (2) và (3) là 3 rối loạn cốt lõi. Còn (4) và (5) không phải là 2 rối loạn riêng biệt hoặc mới, mà đây là hai nhóm chẩn đoán bổ sung mà DSM phân loại nhằm bao quát các biểu hiện phân ly mà không hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể nào. Một nhóm dành cho những trường hợp có phân ly rõ ràng nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nó thuộc vào nhóm nào cụ thể như (1), (2) và (3). Còn một nhóm dùng tạm thời khi chưa có đủ thông tin để kết luận. Tôi sẽ giải thích cụ thể hơn ở bên dưới khi chúng ta đào sâu vào từng loại. Vì vậy, trong bài viết này, tôi sẽ tập trung cung cấp thông tin vào 3 loại rối loạn cốt lõi nhất:

Loại 1: Dissociative Identity Disorder (DID) – Rối loạn nhận dạng phân ly

Trước đây DID còn được gọi là rối loạn đa nhân cách. Người mắc thường sẽ có ít nhất 2 trạng thái của bản thân hoặc bản dạng khác nhau. Các nghiên cứu dịch tễ học ước tính tỷ lệ mắc DID vào khoảng 1 đến 1,5% dân số, tuy nhiên con số này có thể thay đổi tùy phương pháp nghiên cứu và mức độ nhận diện lâm sàng. Ngoài ra, tỷ lệ mắc được cho là ngang nhau giữa nam và nữ. 

Một số biểu hiện điển hình và tiêu chí chẩn đoán: 

  1. Người mắc thường trải qua cảm giác như bị gián đoạn bản dạng bởi có ít nhất 2 hoặc nhiều hơn “alters” (nhân dạng phân ly) xuất hiện. 
  2. Người mắc có thể trải qua việc xuất hiện các “khoảng trống trí nhớ” trong ký ức liên quan đến các sự kiện thường ngày hay thông tin cá nhân của chính họ mà không thể giải thích, không thể lý giải bằng các chứng hay quên thông thường. 
  3. Các triệu chứng xuất hiện không phải do việc lạm dụng chất kích thích (rượu, bia, ma túy…), cũng không phải do có vấn đề sức khỏe hay bệnh lý khác. 
  4. Rối loạn mà người bệnh mắc phải không phải là một phần của việc thực hành tôn giáo của họ (ví dụ: người lên đồng, thần linh nhập, người khác nhập v.v… không thể chẩn đoán là mắc DID). 
  5. Các triệu chứng xuất hiện gây đau khổ cho người bệnh một cách đáng kể hoặc thậm chí còn khiến làm suy giảm chức năng và chất lượng sống của người bệnh trong tất cả các lĩnh vực xã hội từ công việc đến quan hệ thường ngày.

Việc chuyển đổi và các nhân dạng phụ trong DID:

    • Việc chuyển đổi (Switching) khi các nhân dạng thay phiên xuất hiện thường được kích hoạt bởi một tác nhân gây căng thẳng nào đó; khi đó, nhân dạng phù hợp nhất để đối phó với nỗi lo hiện tại sẽ xuất hiện. Cách chuyển đổi cũng khá đa dạng và khác nhau ở tùy người: có người thì quá trình chuyển đổi diễn ra rất mượt mà đến nỗi khó nhận ra, cũng có thể trông như người đó đột ngột buồn ngủ hoặc ngắt kết nối, hoặc có người sẽ kèm theo những cử động cơ thể mạnh và rõ rệt. 
    • Có 3 kiểu mối quan hệ giữa các nhân dạng:
      • Quan hệ không có nhận thức gì về nhau (Mutually amnesic relationships): tức tất cả các nhân dạng hoàn toàn không biết đến sự tồn tại của nhau.
      • Quan hệ nhận thức về nhau (Mutually cognizant patterns): mỗi nhân dạng đều ý thức rõ về các nhân dạng còn lại. Một số nhân dạng có thể biết và tương tác với các nhân dạng khác trong thế giới nội tâm của riêng họ.
      • Quan hệ nhận thức một chiều (One-way amnesic relationships): Một số nhân dạng biết về các nhân dạng khác, trong khi chiều ngược lại thì không. Những nhân dạng có nhận thức này thường được mô tả là người quan sát thầm lặng. Đây là kiểu quan hệ phổ biến nhất.

Mục tiêu điều trị:
Thông thường mục tiêu sẽ là tích hợp các nhân dạng phân ly cho đến khi đạt được sự hợp nhất (fusion) cuối cùng. Quá trình này là một quá trình lâu dài giúp cho các nhân dạng dần dần hòa thành một bản dạng thống nhất. Tuy nhiên, có những bệnh nhân không muốn hợp nhất các nhân dạng. Do đó người trị liệu sẽ cần tôn trọng ý kiến của họ và giúp họ bằng cách đưa ra các hình thức trị liệu tâm lý phù hợp, nhằm: hỗ trợ họ tăng sự hợp tác nội tâm giữa các nhân dạng, giảm các triệu chứng tâm lý, giúp họ đối diện và xử lý các sang chấn đã trải qua cũng như cải thiện chất lượng sống.

Xem thêm:
 Đọc chi tiết tại: DSM-5-TR [page 725-738]
 Video tham khảo trường hợp DID: The Three Faces of Eve

=================

Loại 2: Dissociative Amnesia – Chứng quên/mất trí nhớ phân ly

Trong các bộ phim kể về các nhân vật bị mất trí nhớ có thể làm bạn dễ liên tưởng đến chứng Dissociative Amnesia này. Tuy nhiên, trong đời thực có những điểm vừa giống và khác so với những gì chúng ta thường thấy trên phim ảnh. Ước tính tỷ lệ mắc Dissociative Amnesia vào khoảng 1,8% dân số. Và nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ có khả năng được chẩn đoán mắc chứng quên phân ly cao gấp đôi so với nam giới. 

Một số biểu hiện điển hình và tiêu chí chẩn đoán: 

(1) Người mắc không thể nhớ lại các thông tin quan trọng về bản thân (autobiographical information), điều này xảy ra thường liên quan đến các sự kiện/trải nghiệm có tính chất sang chấn hoặc căng thẳng đối với bệnh nhân. Điểm khác biệt mấu chốt là sự quên lãng này không đồng nhất với việc hay quên thông thường (ordinary forgetting). Cần lưu ý: Chứng quên phân ly thường biểu hiện dưới dạng:

    • Mất trí nhớ cục bộ (localized amnesia): không thể nhớ lại các sự kiện đã xảy ra trong một khoảng thời gian cụ thể. Nhưng thời gian trước và sau khoảng đó vẫn nhớ bình thường. Dòng thời gian đó như thể bị “biến mất”. Đây là dạng phổ biến nhất. Khoảng thời gian bị quên có thể rất ngắn (ngay xung quanh một sự kiện sang chấn) hoặc kéo dài nhiều tháng, nhiều năm nếu sang chấn diễn ra trong thời gian dài.
    • Mất trí nhớ có chọn lọc (selective amnesia): Người bệnh có thể nhớ một phần sự kiện, nhưng không phải toàn bộ các chi tiết diễn ra trong sự kiện và thời điểm đó.
    • Mất trí nhớ toàn bộ/tổng quát (generalized amnesia): Mất hoàn toàn ký ức về mọi thứ về cuộc đời mình, bao gồm cả danh tính của chính mình.

(2) Người mắc bị suy giảm chức năng, đau khổ đáng kể, bị ảnh hưởng đến khả năng làm việc, tương tác xã hội, và các hoạt động khác.
(3) Rối loạn này xảy ra không phải là ảnh hưởng của các tác động như: chất kích thích (ví dụ: rượu, ma túy, thuốc), tình trạng thần kinh hay bệnh lý khác (ví dụ: động kinh, di chứng của chấn thương sọ não/chấn thương não, hay các bệnh lý thần kinh khác).
(4) Không phải là các rối loạn khác: Không thể giải thích như các rối loạn như DID, PTSD, hay các rối loạn nhận thức thần kinh.

Một số người mắc chứng quên phân ly dù hiếm gặp nhưng cũng có thể trải qua trạng thái Dissociative fugue (Phân li bỏ nhà đi), nghĩa là người bệnh không chỉ quên danh tính cá nhân và các chi tiết về quá khứ của bản thân, mà còn rời đi đến một nơi hoàn toàn khác. Triệu chứng này có thể xảy ra thoáng qua hoặc nghiêm trọng hơn, hoặc cũng có thể kéo dài vài giờ hoặc vài ngày và kết thúc đột ngột. Dù đa số người bệnh sẽ lấy lại phần lớn hoặc toàn bộ ký ức và không tái phát nữa. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp chưa thể lấy lại ký ức.

Mục tiêu điều trị:

  • Trên thực tế, một số tài liệu lâm sàng cho rằng nhiều bệnh nhân có thể tự hồi phục ký ức mà không cần điều trị chuyên sâu. Mặc dù tôi chưa tìm thấy bất cứ tài liệu nào cho biết tỷ lệ % tự hồi phục, nhưng đa phần có nhiều sự xác nhận xu hướng tự hồi phục xảy ra trong thực tế lâm sàng. Vì sao lại thiếu số liệu? Tôi cho rằng có thể do 2 lý do chính: (1) chưa có đủ mẫu để nghiên cứu dịch tễ rộng lớn, (2) do ở trên tôi có nói, triệu chứng tự biến mất khiến người bệnh không tìm điều trị nên không đưa vào thống kê.
  • Tuy nhiên, vẫn sẽ có những bệnh nhân cần điều trị, bởi nhu cầu được khôi phục trí nhớ của họ cấp thiết hoặc đến từ các nguyên nhân khác. Vậy thì mục tiêu của các nhà trị liệu lúc này sẽ là giúp người bệnh đưa ký ức trở lại ý thức để người bệnh có thể xử lý ký ức và cảm xúc liên quan. Tùy vào từng trường hợp mà các nhà trị liệu sẽ sử dụng phương pháp thôi miên, bán thôi miên, liệu pháp tâm lý hay dùng thuốc kết hợp.

Xem thêm:
 Đọc chi tiết tại: DSM-5-TR [page 739-749]
 Video về một case Dissociative Fugue: Dissociative Fugue

=================

Loại 3: Depersonalization-Derealization Disorder (DDD) – Rối loạn giải thể-mất thực tại

Người mắc có thể sẽ có cảm giác bị tách rời khỏi thực tại và môi trường xung quanh, hoặc tách rời khỏi chính mình (bản thân biến thành người quan sát chứ không phải người đang thực sống cuộc đời đó). Nhiều nghiên cứu cho thấy ước tính tỷ lệ DDD trong dân số dao động từ 0% đến 1,9%. Tỷ lệ mắc được cho là ngang nhau giữa nam và nữ. 

Một số biểu hiện điển hình và tiêu chí chẩn đoán: 

  1. Người mắc xuất hiện các trải nghiệm dai dẳng về việc cảm thấy giải thể (Depersonalization) hoặc mất thực tại (Derealization), hoặc cảm thấy cả hai. Depersonalization là trải nghiệm mà người mắc thấy như tách rời với chính mình, họ trải qua cảm giác như một kẻ ngoài cuộc đang xem về chính mình, không thật, tê liệt về cảm xúc, mất kết nối với cơ thể. Derealization là trải nghiệm họ như bị tách rời với thế giới bên ngoài, mọi thứ ở môi trường xung quanh đều như không thật, những người thân quen cũng trở nên xa lạ, cảm nhận về không gian, khoảng cách, kích thước đồ vật lẫn thời gian đều bị méo mó. 
  2. Các triệu chứng xuất hiện không phải do việc lạm dụng chất kích thích (rượu, bia, ma túy…), cũng không phải do có vấn đề sức khỏe hay bệnh lý khác. 
  3. Người mắc DDD biết cảm giác và trải nghiệm họ đang trải qua là bất thường, dù không biết chính xác chuyện gì đang xảy ra. Điểm này giúp phân biệt khá rõ giữa DDD với các rối loạn tâm thần khác (chẳng hạn như tâm thần phân liệt, rối loạn hoảng sợ, rối loạn trầm cảm, PTSD, hoặc một rối loạn phân ly khác). 
  4. Các triệu chứng xuất hiện gây đau khổ cho người bệnh một cách đáng kể hoặc thậm chí còn khiến làm suy giảm chức năng và chất lượng sống của người bệnh trong tất cả các lĩnh vực xã hội từ công việc đến quan hệ thường ngày.
  5. Căng thẳng tột độ (intense stress) hoặc sang chấn tâm lý (trauma) chính là những yếu tố kích hoạt phổ biến nhất cho chứng bệnh này. 

Mục tiêu điều trị:
Chỉ riêng việc được chẩn đoán đúng DDD cũng có thể giúp giảm mức độ triệu chứng vì nó giúp giảm lo âu của người bệnh trước tính chất khó hiểu và đáng sợ của những trải nghiệm họ đang gặp phải. Khi này, điều kế tiếp mà các nhà trị liệu cần làm là giúp bệnh nhân của họ điều trị các rối loạn đi kèm (comorbidities) như lo âu và trầm cảm bằng nhiều liệu pháp tâm lý khác nhau và cũng có thể kết hợp dùng thuốc (tùy vào tình trạng của từng bệnh nhân).

Xem thêm:
 Đọc chi tiết tại: DSM-5-TR [page 749-756]
 Video về một case DDD tự chia sẻ về mình: derealisation/depersonalisation

=================

  Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Tài liệu này được biên soạn và kiểm duyệt cẩn trọng, kèm theo các nguồn tham khảo được trích dẫn trong từng bài viết. Tuy nhiên, kiến thức trong lĩnh vực tâm lý học luôn thay đổi theo các phát hiện khoa học mới và có thể tồn tại sự khác biệt trong quan điểm chuyên môn. Người đọc được khuyến nghị tiếp cận nội dung một cách thận trọng, đối chiếu chéo thông tin và chủ động cập nhật thêm từ các nguồn đáng tin cậy khác. Nội dung bài viết chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và trình bày quan điểm, không nên được sử dụng như cơ sở để tự chẩn đoán, kê đơn hoặc tự điều trị. Nếu bạn đang gặp vấn đề về tâm lý hoặc sức khỏe tinh thần, hãy liên hệ với bác sĩ tâm thần hoặc chuyên gia tâm lý để được tư vấn và hỗ trợ phù hợp.

Cody Robbie

Leave a comment