Khi học môn “Mainstreaming Gender in Global Affairs” (tạm dịch: Lồng Ghép Giới Trong Quan Hệ Quốc Tế), mình và các bạn được giáo sư Kristy Kelly hướng dẫn thực hành một bài tập khá thú vị: chọn một chính sách có liên quan đến giới, sau đó vận dụng khung phân tích “What’s the Problem Represented to be?” (viết tắt: WPR; tạm dịch: “Vấn Đề Được Kiến Tạo Là Gì?”) của Carol Bacchi để phân tích chính sách đó. Khung phân tích này cho rằng bất kỳ chính sách nào cũng dựa trên một vấn đề mà con người kiến tạo, do đó người đọc chính sách cần tìm hiểu thêm về vấn đề được kiến tạo làm cơ sở lý luận của chính sách, và những tác động từ cách kiến tạo vấn đề và chính sách đi kèm.
Dưới đây là một ví dụ “home-made” của mình, áp dụng khung phân tích WPR để phân tích Khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam 2024 số 41/2024/QH15 (viết tắt: BHXH 2024) – quy định cho phép lao động nam được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi vợ họ sinh con. Theo đó, thời gian nghỉ của người cha dao động từ 5 đến 14 ngày làm việc, tùy thuộc vào các yếu tố như hình thức sinh của người mẹ và số em bé chào đời.
Mình chọn chính sách này làm đối tượng nghiên cứu vì đây là một trong những nỗ lực đáng chú ý của Việt Nam trong vấn đề bình đẳng giới, chính thức công nhận rằng công việc chăm sóc không chỉ là trách nhiệm của người mẹ mà còn là của người cha. Mình cũng muốn xem xét cách kiến tạo vấn đề như hiện tại có thể tác động ra sao khi so sánh tương quan giữa thời gian nghỉ 5-14 ngày của người cha và 4-6 tháng của người mẹ.
Phân tích chế độ nghỉ thai sản của lao động nam theo khung phân tích WPR của Bacchi
Vấn đề được kiến tạo là gì?
Vì mình không tìm được tài liệu chính thức nào nêu rõ lý do cần luật hóa chế độ nghỉ thai sản cho lao động nam ở Việt Nam, và Tờ trình sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2024 dường như cũng không nêu rõ sự cần thiết của quy định này, nên mình chọn nhìn vào đối tượng và nguồn ngân sách chi trả cho điều luật này. Đây có thể coi là một công cụ thực hiện chính sách mà khung phân tích WPR gợi ý.
Theo Luật BHXH 2024, chế độ nghỉ có hưởng lương dành cho lao động nam “đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con” (Điều 53, mục 2, trang 40). Chế độ này được chi trả từ Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam và chỉ áp dụng cho nam giới Việt Nam làm việc trong khu vực chính thức. Từ cách chính sách được thiết kế và tài trợ, mình cho rằng vấn đề được kiến tạo là “nam giới không thể thực hiện công việc chăm sóc không lương trong gia đình do họ cần phải thực hiện các nghĩa vụ kinh tế.” Vấn đề này đã dẫn tới chính sách cho phép người lao động nam nghỉ việc có lương khi vợ sinh con, tuy nhiên thời gian nghỉ đó không dài như thời gian nghỉ của lao động nữ.
Mình cho rằng một số giả thiết sau có thể đã dẫn tới việc hình thành vấn đề được nói tới ở trên:
- Nếu không có chế độ nghỉ chính thức và vẫn được hưởng lương, người cha sẽ khó có thể tham gia vào công việc chăm sóc trong gia đình.
- Một khoảng nghỉ ngắn (5 – 14 ngày) có lẽ đủ để người cha tham gia chăm sóc (những) đứa con mới chào đời.
- Vì người mẹ đã được hưởng chế độ nghỉ thai sản dài, nên việc kỳ vọng người cha tiếp tục đi làm là hợp lý. Họ không chỉ làm việc để duy trì thu nhập gia đình mà còn đóng góp cho nền kinh tế quốc gia.
- Việc quy định này được đưa vào Luật BHXH còn hàm ý mục tiêu mở rộng độ bao phủ của BHXH. Tờ trình Dự án Luật BHXH sửa đổi nêu rõ một trong những mục tiêu then chốt là tăng số lượng người lao động tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội trên cả nước. Mặc dù mối quan hệ giữa mục tiêu này và chế độ nghỉ thai sản dành cho lao động nam không được chỉ ra một cách rõ ràng, việc quy định này xuất hiện trong Luật BHXH cũng có thể xem như một trong những cách giúp thu hút thêm lao động nam vào khu vực việc làm chính thức và hệ thống BHXH quốc gia.
Cách kiến tạo vấn đề này tạo ra những hệ quả gì?
Mình không tìm được nhiều thảo luận công khai trên Internet về chính sách chế độ nghỉ thai sản cho lao động nam khi vợ sinh con. Có lẽ quy định này không nhận được nhiều sự chú ý, dù là tán thành hay phản đối, mà nhanh chóng được tiếp nhận như một điều hiển nhiên, hợp lẽ thường.
Theo ý kiến cá nhân, mình cho rằng cách kiến tạo vấn đề như trên (nếu đúng) có thể tạo ra những hệ quả trái chiều. Một mặt, quy định này giúp tái khẳng định vai trò chăm sóc trong gia đình của người cha, rằng công việc chăm sóc không lương không chỉ dành cho người mẹ. Mặt khác, thời gian nghỉ tương đối ngắn của người cha so với thời gian nghỉ của người mẹ dường như không thay đổi đáng kể cấu trúc phân chia lao động của công việc chăm sóc không lương trong gia đình: Nam giới được xem như những người hỗ trợ, với vai trò chăm sóc mang tính tạm thời, phụ trợ; nữ giới là người chăm sóc chính, và phải tạm dừng công việc có lương trong giai đoạn chăm sóc con nhỏ.
Nhìn chung, dù chính sách nghỉ thai sản cho lao động nam có vợ sinh con có thể được xem là rất tiến bộ, chính sách này vẫn chưa giải quyết được gốc rễ những vấn đề giới trong phân chia lao động tại cấp độ gia đình.
Ai hưởng lợi & Ai bị bỏ sót trong cách kiến tạo vấn đề này?
Nam giới có việc làm trong khu vực chính thức và đóng BHXH đầy đủ có lẽ là nhóm hưởng lợi nhiều nhất từ quy định này. Trong khi đó, nam giới làm việc trong khu vực phi chính thức – những người không tham gia hoặc không thể tham gia BHXH – chưa được tính tới trong quy định này.
Vấn đề có thể được kiến tạo theo cách nào khác? Cách kiến tạo mới sẽ khiến chính sách thay đổi như thế nào?
Nếu ta thay đổi cách nhìn vấn đề, từ “nam giới không thể thực hiện công việc chăm sóc không lương trong gia đình do họ cần phải thực hiện các nghĩa vụ kinh tế” sang “cấu trúc phân công lao động trong gia đình tạo gánh nặng chăm sóc và các công việc không lương cho nữ giới, và gánh nặng kinh tế cho nam giới”, thì chính sách mới sẽ cần tập trung hơn vào việc tái tạo cấu trúc phân công lao động trong hộ gia đình. Sau đây là một số chính sách có thể đi cùng với vấn đề mới được kiến tạo, tham khảo từ báo cáo “Paid leave for fathers”(tạm dịch: “Nghỉ phép có lương cho người cha”) (2025) của OECD, ưu tiên những chính sách không tạo thêm gánh nặng ngân sách:
- Quy định khoảng thời gian nghỉ theo hạn ngạch cho người cha và người mẹ. Thời gian nghỉ của mỗi cá nhân là không thể chuyển nhượng.
- Giống quy định 1 nêu trên, tuy nhiên cho phép một khoảng thời gian nghỉ mà cha và mẹ có thể tự thương lượng để thay phiên nhau sử dụng.
Đối với cả 2 hướng chính sách này, hạn ngạch cần được phân bổ hợp lý để người mẹ có đủ thời gian hồi sức sau sinh. Tổng thời gian hạn ngạch của cha và mẹ sẽ bằng tổng thời gian nghỉ thai sản của lao động nam và nữ đang được quy định trong Luật BHXH 2024. Đối với những gia đình chỉ có cha hoặc mẹ đủ điều kiện hưởng lợi, người đó chỉ được nghỉ tối đa hạn ngạch của mình theo quy định.
Bên cạnh việc góp phần giải quyết vấn đề mới được kiến tạo, các chính sách giả định này còn có khả năng giúp gắn kết tình cảm giữa cha và con, nâng cao mức độ hài lòng với cuộc sống của cha mẹ, và thúc đẩy bình đẳng giới tại nơi làm việc. Tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa giải quyết được nhu cầu của lao động phi chính thức như đã nói ở trên, do vậy cần thêm những chính sách khác hoặc nguồn lực ngoài nhà nước để bổ trợ.
Kết luận
Tựu trung, chính sách nghỉ thai sản dành cho lao động nam của Việt Nam là một bước tiến trong công tác bình đẳng giới, dù rằng để đạt được bình đẳng giới thực chất vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa.
Bài viết này không nhằm đưa ra bất cứ khuyến nghị chính sách nào, mà chỉ muốn giới thiệu phương pháp tiếp cận WPR của Bacchi. Mình nghĩ đây là một khung phân tích hữu ích dành cho những người làm phát triển và các nhà hoạch định chính sách. Khi đọc một chính sách, ta không nên chỉ đọc và tiếp nhận nó một cách đương nhiên, mà còn cần tìm hiểu chính sách đó được xây dựng để giải quyết (những) vấn đề gì, những giả thiết của vấn đề đó, ai hưởng lợi và ai chịu thiệt từ chính sách và vấn đề được kiến tạo nên. Quan trọng hơn cả, khung phân tích WPR còn có thể giúp ta nhận diện được những điểm bất cập của một chính sách, từ đó thay đổi cách xác định vấn đề và tìm ra những giải pháp mới hiệu quả và phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.
Duyên Nguyễn
Miễn trừ trách nhiệm:
Tuy chúng tôi đã cố gắng để bảo đảm tính chính xác của các thông tin trong bài viết này, chúng tôi không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ thiệt hại nào gây ra cho người đọc do sử dụng các thông tin được nêu.
Tài liệu tham khảo (tiếng Anh):
Bacchi, Carol. 1999. Women, Policy and Politics: The Construction of Policy Problems.
Bacchi, Carol. 2012.. Why Study Problematizations? Making Politics Visible. Open Journal of Political Science 2(1): 1-8.
Skip to PDF content


1 Comment
Đen Đá 0 Đường
Nhưng vui lòng cho mình hỏi, chủ đề này thì tại sao lại liên quan đến mảng phát triển bền vững ha? Mình thấy này liên quan đến chính sách nhiều hơn chứ?