Skip to content Skip to footer
phat-trien-ben-vung-la-gi

Trong những năm gần đây, cụm từ “phát triển bền vững” (viết tắt: PTBV) tràn ngập trên các phương tiện truyền thông và có mặt trong nhiều lĩnh vực của đời sống. PTBV xuất hiện trong các diễn đàn toàn cầu, các hội thảo cấp khu vực, các chiến lược cấp quốc gia, và cả tuyên bố sứ mệnh của các tổ chức. Chúng ta nhắc đến PTBV thường xuyên đến mức ta ngỡ đó là một khái niệm hiển nhiên và đơn giản mà ai cũng hiểu. Nhưng chính xác thì PTBV nghĩa là gì? Và tại sao PTBV lại mang ý nghĩa đó?

Một trong những định nghĩa phổ biến nhất hiện nay về PTBV là định nghĩa của Liên Hợp Quốc (viết tắt: LHQ): đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Định nghĩa này được cụ thể hóa bằng 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) và 169 chỉ tiêu, trải rộng trên ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, hòa nhập xã hội, và bảo vệ môi trường. Việc chú trọng tới cả ba trụ cột này vẻ hiển nhiên trong thời đại hiện nay, nhưng người ta phải mất nhiều thập kỷ suy đi nghĩ lại và điều chỉnh, tuy là mức độ quan tâm và nguồn lực dành cho mỗi trụ cột không phải lúc nào cũng như nhau.

Sau Thế chiến thứ hai, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc phát động Thập kỷ Phát triển thứ nhất (tên gốc: “the First Development Decade”) (1960–1970), chủ yếu gắn phát triển với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ngoài lý do là hầu hết các mục tiêu này dễ định lượng hơn so với các mục tiêu xã hội và môi trường, người ta cho rằng, do các nước phát triển đã kiểm soát được những vấn đề phát triển cấp bách nhất bấy giờ là thất nghiệp và nghèo đói, tăng trưởng kinh tế nên vừa là mục đích vừa là phương tiện để các nước nghèo tích lũy vốn, công nghiệp hóa, và tăng trưởng kinh tế, từ đó mang lại sự thịnh vượng đến cho người dân (Seers, 1969).

Tuy nhiên, người ta sớm nhận ra rằng tăng trưởng kinh tế chưa chắc đã xoa dịu được các vấn đề xã hội và con người. Vì vậy, trong Thập kỷ Phát triển thứ hai (tên gốc: “the Second Development Decade”) (1971–1980), các mục tiêu về xã hội và con người như thể chất, đạo đức, trí tuệ, văn hóa được chú trọng hơn và được coi là một phần thiết yếu của quá trình phát triển. Cùng lúc đó, ảnh hưởng của những nghiên cứu quan trọng về môi trường, như “Mùa xuân vắng lặng” (tên gốc: “Silent Spring”) (1962) của Rachel Carson và Báo cáo về Phát Triển và Môi Trường” (tên gốc: “Founex Report on Development and Environment“) (1971), đã buộc người ta phải nhìn nhận lại mục tiêu phát triển gắn với tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo được sự quan tâm tới việc bảo vệ môi trường.

Từ năm 1981 đến năm 2000, LHQ khởi động Thập kỷ Phát triển thứ ba (tên gốc: “the Third Development Decade”) (1981–1990) và thứ tư (tên gốc: “the Fourth Development Decade”) (1991–2000). Tuy các trọng tâm phát triển không khác nhiều so với những giai đoạn trước, nhưng giai đoạn này phát triển gắn bó chặt chẽ hơn với các phương pháp tiếp cận về phát triển (tên gốc: “human development approach”). Được khởi xướng bởi nhà kinh tế học Mahbub Ul Haq và giáo sư Amartya Sen, cách tiếp cận này tập trung vào việc làm giàu chất lượng đời sống của con người thay vì làm giàu nền kinh tế. Cũng trong thời gian này, chủ đề môi trường bền vững cũng chính thức có chỗ đứng vững chắc trong chương trình nghị sự của LHQ thông qua Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất năm 1992 ở Rio de Janeiro, Brazil.

Từ năm 2000 đến 2015, LHQ đặt ra các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (tên gốc: “Millennium Development Goals”) nhằm hiện thực hóa những giá trị được xem là nền tảng đối với quan hệ quốc tế: tự do, bình đẳng, đoàn kết, khoan dung, tôn trọng thiên nhiên, và chia sẻ trách nhiệm. Những giá trị này đã định khung cho tám mục tiêu cụ thể của LHQ trong suốt giai đoạn đó. 

Để thực hiện những mục tiêu mà giai đoạn trước đó chưa hoàn thành, đồng thời cập nhật những mục tiêu mới phù hợp với các vấn đề phát triển trong thời đại mới, trong giai đoạn 2016-2039, LHQ đã thúc đẩy các Mục tiêu Phát triển Bền vững, với 17 mục tiêu và 169 chỉ tiêu mà ngày nay chúng ta thường thấy.

Nếu bạn cho rằng định nghĩa về PTBV của LHQ vẫn mơ hồ và có thể diễn giải theo nhiều cách khác nhau, thì yên tâm là không chỉ mình bạn nghĩ vậy. Trong chiến lược mang tên “Caring for the Earth: A Strategy for Sustainable Living” (tạm dịch: “Chăm Sóc Trái Đất: Chiến Lược Cho Một Lối Sống Bền Vững”) (1991), IUCN, UNEP và WWF cũng đề cập tới quan điểm này, đồng thời đưa ra cách định nghĩa của riêng họ: PTBV là nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trong giới hạn sức tải của hệ sinh thái nuôi dưỡng cuộc sống đó. Định nghĩa này có thể cụ thể hơn, nhưng tương tự định nghĩa của LHQ, vẫn lấy con người làm trung tâm và vẫn đặt niềm tin (có phần lý tưởng hóa) vào các giải pháp bên nào cũng có lợi. Trong bài viết “The Limits to Caring: Sustainable Living and the Loss of Biodiversity” (tạm dich: Giới Hạn của Sự Chăm Sóc: Lối Sống Bền Vững và Sự Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học”) (1993), John Robinson bày tỏ sự nghi ngờ đối với chiến lược này, cho rằng, về bản chất, phát triển và bảo tồn khó có thể đồng thời tồn tại. Theo ông, chiến lược tiêu thụ bền vững mà ba tổ chức đưa ra rốt cuộc vẫn sẽ gây ra sự suy giảm đa dạng sinh học; và chúng ta buộc phải thành thật thừa nhận những đánh đổi đi kèm với quá trình phát triển đang được định nghĩa như vậy.

Bên cạnh những nỗ lực đưa ra định nghĩa chính thức cho PTBV là các lý thuyết và hệ tư tưởng có khả năng định hình các cách hiểu khác về khái niệm này. Triết gia người Na Uy Arne Næss là một trong những người tiên phong khởi xướng triết lý “deep ecology” (tạm dịch: “sinh thái học chiều sâu”) như một lập trường đối lập với cái mà ông gọi là phong trào “shallow ecology” (tạm dịch: “sinh thái học bề mặt”) đương thời. Theo quan điểm của “deep ecology”, giống như con người, những sự sống khác đều có giá trị nội tại, và giá trị đó không phụ thuộc vào mức độ hữu dụng của chúng đối với con người. Bởi vậy, con người không có quyền làm tổn hại sự phong phú và đa dạng của các sự sống khác, ngoại trừ với mục đích đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của họ. Nếu ta nhìn PTBV qua lăng kính của “deep ecology”, có lẽ ta sẽ thấy các mục tiêu phát triển kinh tế không còn quan trọng như chúng vốn được xem là.

Phong trào “degrowth” (tạm dịch: giảm tăng trưởng) thậm chí còn kéo tầm quan trọng của mục tiêu phát triển kinh tế xuống nữa. Xuất hiện từ thập niên 1970, lý thuyết kinh tế này cho rằng các nền kinh tế nên giảm phát thay vì cố gắng tăng trưởng liên tục, từ đó giảm khai thác năng lượng và tài nguyên của Trái đất, đồng thời đặt phúc lợi xã hội lên trên lợi nhuận. Nếu sử dụng lý thuyết này để định nghĩa PTBV thì có lẽ đó sẽ là phát triển tập trung vào các yếu tố công bằng, dân chủ, và giảm sức ảnh hưởng của thị trường. 

Trên đây chỉ là một trong số ít những lăng kính đã và đang tiếp tục định hình cách chúng ta hiểu và nhìn nhận về khái niệm PTBV. Trong bối cảnh thế giới không ngừng vận động, ý nghĩa của cụm từ này chắc chắn cũng sẽ tiếp tục đổi thay.

Vậy các tổ chức và những người làm phát triển nên định nghĩa PTBV theo cách nào?

Trong những ngày đầu tiên của chương trình cao học, tôi được học rằng PTBV là một khái niệm “normative”, có thể hiểu là một khái niệm mô tả cách mà sự vật hiện tượng nên là thay vì chính xác là. Nói một cách đơn giản hơn, thì việc định nghĩa PTBV không giống như việc ta định nghĩa cái cây, con cá, hay bất cứ một sự vật hiện tượng nào mà ta có thể định nghĩa một cách chính xác và gần như ai cũng sẽ hiểu giống nhau. Ở góc độ cá nhân hay tổ chức, định nghĩa PTBV có thể xem như một hành trình nơi mỗi (nhóm) người có thể tự xây dựng định nghĩa của riêng mình. Và để trả lời cho câu hỏi ta nên bắt đầu từ đâu, ta có thể bắt đầu từ khái niệm “Thay đổi Tích cực” (tên gốc: “Good Change”) lấy cảm hứng từ tiểu luận “Knowing in Development: A Radical Agenda for the Twenty-First Century” (tạm dịch: Biết trong Phát triển: Chương Trình Cấp Tiến Cho Thế Kỷ 21“) (2014) của Robert Chambers. Chambers đặt ra những câu hỏi ai? và của ai? để khích lệ quá trình suy tư về một thay đổi có thể được xem là tích cực: Ai có quyền quyết định thế nào là tích cực? Ai có quyền quyết định thay đổi nào đáng được quan tâm? Ai có quyền quyết định những giá trị và ưu tiên của xã hội? Ai hưởng lợi và ai chịu thiệt? Chambers cũng khuyến khích ta thực hành việc “Hiểu” (tên gốc: “Knowing”) – ý thức được vì sao ta biết những điều ta đang biết – bằng cách liên tục phản tư, soi chiếu vào chính những điều kiện đã tạo nên thế giới quan của ta, và vào những phương pháp mà ta chọn để tiếp cận một vấn đề mà ta quan tâm. Bằng cách đó, có lẽ ta sẽ thấy PTBV nên là gì, từ đó hình thành định nghĩa của riêng mình về khái niệm này.

 

Duyên Nguyễn


Miễn trừ trách nhiệm:

Tuy chúng tôi đã cố gắng để bảo đảm tính chính xác của các thông tin trong bài viết này, chúng tôi không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ thiệt hại nào gây ra cho người đọc do sử dụng các thông tin được nêu. Nội dung của ấn phẩm này chưa được Liên Hợp Quốc phê duyệt và không phản ánh quan điểm của Liên Hợp Quốc, các quan chức hay các Quốc gia Thành viên của tổ chức này.


Tài liệu tham khảo mở rộng (tiếng Anh):

Anonymous (1971). The Founex Report on Development and Environment.

Carson, R. (1962). Silent Spring. Boston: Houghton Mifflin. [Read Chapters 1-3] Library Access.

Chambers, R. (2014). “Knowing in Development: A Radical Agenda for the Twenty-First Century.” Forum for Development Studies, Vol 41 (3).

Grove, C. R. (1995). Green Imperialism: Colonial expansion, tropical island edens and the origins of environmentalism, 1600-1860. Cambridge, UK.

Harris, R D. and J. Perry (2025). ‘The Demise of USAID: Few Regrets in Latin America.’ org, Feb. 17.

Independent Taskforce on Creative Climate Action (2022). Final Report. PSIA, Sciences Po.

Lancet Editorial (2025). ‘The demise of USAID: Time to rethink foreign aid?’ The Lancet, Vol. 45, March 22.

Meadows, D. H., Randers, J., & Meadows, D. L. (1972; 2004). The Limits to Growth: The 30-year Update. White River Junction, Vt.: Chelsea Green Pub. Co.

Pope Francis (2015). Encyclical Letter on Care for our Common Home.

Reisner, M. (1986). Cadillac Desert: The American West and its disappearing water. New York: Penguin. Library Access. 

Robinson, J. G. (1993). “The Limits of Caring: Sustainable living and the loss of biodiversity.” Conservation Biology, Vol. 7, #1, pp. 20-28.

Robinson, J. G. (2024). “Scaling up area-based conservation to implement the Global Biodiversity Framework’s 30×30 target: The role of Nature’s Strongholds. PLOS Biology.

Rockström, J. et al (2009). “Planetary Boundaries: Exploring the Safe Operating Space for Humanity.” Ecology and Society 14, no. 2, art. 32.

Rodney, W. (1972). “Problems of Third World Development.” Ufahamu: A Journal of African Studies, 3(2).

Romm, J. (2002) “The Coincidental Order of Environmental Justice.” In K. Mutz et al (eds.) Justice and Natural Resources: Concepts, Strategies, and Applications. Island Press.

Seers, D. (1969). The Meaning of Development. Sussex: IDS.

Sen, A. (2004). A More Human Theory of Development. Interview by Shaikh, N.

A. Cockburn (1990). The Fate of the Forest: Developers, destroyers and defenders of the Amazon. Chicago: University of Chicago Press.

Tsing, A. L et al editors (2021) Feral atlas: The more-than-human Anthropocene. A Stanford Digital Project.

Tuck, E. and Yang, K. W. (2012). Decolonization is not a metaphor, in Decolonization, Indigeneity, Education &; Society.

United Nations (2015). Transforming our World: The 2030 Agenda for Sustainable Development. Sustainable Development Knowledge Platform.

United Nations (n.d.) “Convention on Biological Diversity: Key international instrument for sustainable development. 

 

Leave a comment